Kinh Thánh Lược Truyện

Về trang chủ

Paul đến Rome

Khi tới ngày khởi hành đi Rome, họ giao Paul cùng một số tù nhân khác cho một sĩ quan tên là Julius, thuộc đội Cận vệ Hoàng Gia. Họ xuống một con tàu khởi hành từ Adramyttium, dự định đi dọc theo bờ biển Tiểu Á. Sau khi phải vất vả lắm mới đi qua được Mũi Salmone, họ đến một nơi gọi là Hải Cảng Tốt gần thị trấn Lasea.

Lúc ấy đã là quá ngày lễ Chuộc Tội, và việc đi tàu thuyền không còn an toàn nữa. Paul cảnh báo: “Thưa các ông, tôi thấy chuyến đi này sẽ gặp nguy hiểm lớn, có thể mất cả hàng hóa, tàu thuyền và tính mạng.”

Nhưng họ không nghe mà muốn tới trú đông tại Phoenix, một hải cảng của Crete.

Ban đầu gió nam thổi nhẹ, họ tưởng mọi chuyện sẽ tốt đẹp, nên cứ đi men theo bờ biển Crete. Nhưng chẳng bao lâu sau, một cơn bão từ hướng đông bắc ập đến. Cơn bão dữ dội khiến tàu chao đảo, các thủy thủ phải ném hàng hóa xuống biển để cho nhẹ bớt.

Đến đêm thứ mười bốn, khi họ vẫn còn đang bị bão quăng quật trên biển, thì vào khoảng nửa đêm, các thủy thủ thăm dò thấy mực nước nông thì biết tàu sắp vào gần đất liền. Sợ tàu mắc nào đá, họ thả neo bốn phía rồi chờ trời sáng.

Khi trời sáng, họ thấy một vịnh có bãi cát và quyết định cho tàu tiến vào đó. Nhưng tàu bị mắc cạn phải một bãi đá ngầm, mũi tàu bị kẹt, còn đuôi bị sóng đánh vỡ tan. Binh lính định giết các tù binh để họ khỏi bỏ trốn, nhưng Julius muốn cứu Paul nên không cho làm vậy. Những người biết bơi nhảy xuống nước, còn những người khác thì bám vào mảnh ván để vào bờ.


Khi đã lên bờ an toàn, họ mới biết đảo ấy tên là Malta. Người dân ở đó đối xử với họ tử tế. Trời mưa và lạnh, nên họ nhóm một đống củi để sưởi. Trong lúc Paul đang bỏ thêm một bó củi vào lửa, thì một con rắn độc từ trong đó bò ra cắn vào tay ông. Người trên đảo thấy con rắn treo lủng lẳng trên tay Paul thì nói: “Hẳn người này là kẻ sát nhân, hắn đã thoát khỏi biển mà không thoát được công lý.”

Nhưng Paul quăng con rắn vào lửa mà không hề bị thương. Lúc lâu sau không thấy tay ông bị sao, họ lại đổi ý mà nói ông là một vị thần.

Người lãnh đạo của đảo tên là Publius, ông đã tiếp đãi họ tử tế. Cha của Publius đang nằm bệnh, Paul đến thăm, cầu nguyện và đặt tay trên ông để ông được khỏi bệnh.

Sau việc đó, những người khác trên đảo bị bệnh cũng đến để được Paul chữa lành.


Ba tháng sau, họ xuống một con tàu của Alexandria đang trú đông trên đảo, và sau nhiều ngày họ đã đến được Rome. Khi đến Rome, các tín hữu tại đó ra đón Paul. Thấy họ, Paul tạ ơn Thiên Chúa, lòng đầy phấn chấn. Paul được sắp xếp ở riêng với một lính canh.

Sau ba ngày, Paul gặp các nhà lãnh đạo Judah tại đó và nói: “Thưa các ông, dù tôi không làm điều gì chống lại dân tộc hay truyền thống của tổ tiên, tôi vẫn bị bắt ở Jerusalem và bị giao nộp cho người La Mã. Khi họ thẩm vấn tôi, họ muốn thả ra vì không thấy tôi phạm tội gì đáng chết. Nhưng người Judah lại phản đối, nên tôi buộc phải kháng cáo lên hoàng đế, dù không hề có ý tố cáo dân tôi. Vì vậy, tôi xin gặp và nói chuyện với các ông. Chính vì sự hy vọng của Israel mà tôi bị xiềng xích như thế này.”

Họ đáp: “Chúng tôi không nhận được thư nào từ Judea nói xấu ông, và cũng không ai đến đây cáo buộc điều gì chống lại ông. Nhưng chúng tôi muốn nghe quan điểm của ông, vì ở đâu chúng tôi cũng thấy người ta nói chống lại giáo phái này.”

Họ bèn sắp đặt một ngày và rất đông người tới nơi Paul ở. Suốt từ sáng đến tối, ông giải thích về Nước Trời, dùng Kinh Thánh và các lời tiên tri để chứng minh về Đức Jesus. Người thì tin ông, người thì không. Khi họ bắt đầu tranh luận và định ra về thì Paul nói thêm: “Đức Thánh Linh đã phán rất đúng qua lời ngôn sứ Isaiah, rằng dân này lòng dạ chai đá, tai họ nặng nề, mắt họ nhắm lại. Vì vậy, hãy biết rằng sự cứu rỗi từ Thiên Chúa nay sẽ được gửi đến cho dân ngoại, và họ sẽ lắng nghe.”


Paul sống tại Rome trong hai năm ở một ngôi nhà thuê, tiếp đón tất cả những ai đến với ông. Ông rao giảng về Nước Trời và về Đức Jesus một cách nhiệt thành, không bị ai ngăn trở.